Tìm hiểu:
Tóm Lược Lịch Sử Giáo Phận Vinh
Để hiểu được tinh thần sống đạo và truyền thống của người Công Giáo Giáo Phận Vinh trước mọi biến cố của lịch sử, chúng tôi gửi đến quý vị những dòng tóm lược sau đây về lịch sử Giáo Phận Vinh.
Sưu tầm và biên soạn:
Sưu tầm và biên soạn:
1. Giai đoạn phôi thai: 1533-1651
Ngày Lễ Thánh Giuse, 19.03.1627, khi Giáo sĩ Ðắc Lộ (Alexandre de Rhodes) đặt chân lên Cửa Bạng, thuộc tỉnh Thanh Hóa, ngài đã cho dựng một tượng Thánh Giá vĩ đại tại cửa biển và bắt đầu công cuộc truyền giáo.
Trong vòng 8 tháng trời giảng đạo, thuyền của cha Ðắc Lộ đã ghé vào những cửa biển ở Xứ Nghệ: Cửa Lò, Cửa Sót và Cửa Rùm. Ở Cửa Rùm, ngài đã thành lập được một trung tâm Công Giáo rất sầm uất.
Hơn một năm sau, khi cha Ðắc Lộ phải rời Việt Nam để trở lại Âu Châu trong sự luyến tiếc của toàn thể giáo dân, con số giáo dân đã lên tới 30.000 người. Ngoài ra, cái công lớn nhất của cha Ðắc Lộ là ngài đã khám phá ra chữ Quốc Ngữ, và đã đóng góp vào kho tàng văn hóa dân tộc Việt Nam quyển «Phép Giảng Tám Ngày», ấn hành năm 1651 bằng chữ quốc ngữ nguyên sơ, để dạy giáo lý cho tân tòng. Quyển sách này được coi là một bảo vật văn hóa quí giá, một di sản ngôn ngữ của người Việt Nam. Ngoài ra, cha còn viết hai tác phẩm khác bằng tiếng Pháp, có liên quan đến lịch sử truyền giáo tại Việt Nam. Ðó là quyển: «Divers voyages et Missions» (Các Cuộc Hành Trình Truyền Giáo), xuất bản tại Paris năm 1653 và quyển «Histoire du Royaume de Tonkin» (Lịch Sử Nước Bắc Việt), xuất bản bằng tiếng Ý năm 1650, bằng tiếng Pháp năm 1651 và bằng tiếng La-tinh năm 1652.
2. Giai đoạn ổn định: 1659-1792
Nhận thấy công cuộc truyền giáo ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ, năm 1659, Tòa Thánh chính thức ban sắc lệnh thành lập 2 Giáo Phận mới: Giáo Phận Ðàng Ngoài, từ tỉnh Quảng Bình trở ra, được giao cho Ðức Cha Francois Fallu coi sóc, và Giáo Phận Ðàng Trong, từ Huế trở vào trong Nam, được giao cho Ðức Cha Lambert de la Motte coi sóc.
Sau đó, khi số giáo dân tăng rất nhanh, Giáo Phận Ðàng Ngoài lại chia ra thành 2 Giáo Phận mới nữa: Giáo Phận Ðông Ðàng Ngoài, gồm Hải Phòng và các tỉnh phía bắc, và Giáo Phận Tây Ðàng Ngoài, từ Hà Nội cho tới Quảng Bình.
Phần cực nam, từ Thánh Hóa cho đến Sông Gianh, được gọi chung là «Xứ Nghệ». Vì Xứ Nghệ cách Hà Nội quá xa, khoảng 500km, mà đường sá lưu thông lại khó khăn, nhất là đại đa số dân chúng còn quá nghèo nàn chất phác và có một giọng nói hoàn toàn khác hẳn ở phía Bắc, nên các vị thừa sai đã dành cho Xứ Nghệ một cơ chế hầu như độc lập. Vì thế, nếu ngoài phía cực bắc, có Ðức Giám Mục, thì trong phía cực nam, có Ðức Giám Mục phó. Và nếu «ở phía ngoài», có Chủng viện Vĩnh Trị, chung cho cả Ðông và Tây, thì «trong này» lại có Chủng viện Trang Nứa (sau được dời vào Hướng Phương). Còn Tòa Giám Mục được đặt tại Trang Ðen (Nam Ðàn), sau dời vào Thọ Kỳ (Thọ Ninh) vào thời Ðức Cha Hậu I, tức Ðức Cha De La Motte.
Trên thực tế, hầu như hai Giáo Phận độc lập vậy.
3. Giai đoạn phân chia Giáo Phận: 1792-1846
Khi Ðức Cha Hậu II, tức Ðức Cha Gauthier, dời Tòa Giám Mục từ Thọ Ninh ra đặt ở Xã Ðoài vào năm 1842, thì cũng vào thời gian đó, Tòa Thánh quyết định tách Xứ Nghệ ra khỏi Hà Nội (Tây Ðàng Ngoài).
Ngày 27.03.1846, Tòa Thánh bổ nhiệm Ðức Cha Hậu II, Phó Giám Mục của Ðức Cha Liêu Retord ở Hà Nội, vào làm Giám Mục tiên khởi Giáo Phận mới Vinh.
Trong một bản tường trình gửi về Tòa Thánh, Ðức Cha Liêu Retord, Giám Mục Chính của Giáo Phận Tây Ðàng Ngoài, ca tụng tinh thần giáo dân Xứ Nghệ như sau:
- «Ở tại Hà Tĩnh và Nghệ An, có tới 45.364 bổn đạo. Trong hai tỉnh này, họ là những bổn đạo sốt sắng nhất trong Giáo Phận».
Ðó chính là yếu tố quan trọng thúc đẩy Ðức Giáo Hoàng Grê-gô-ri-ô ra Sắc Chỉ «Ex debitu pastoralis», ngày 27.03.1846, thành lập Giáo Phận Vinh.
Theo Sắc Chỉ trên, biên giới của Tân Giáo Phận Vinh được thiết lập như sau: Phía bắc, giáp tỉnh Thanh Hóa; phía nam, kéo dài đến tả ngạn sông Gianh, giáp huyện Bố Trạch thuộc tỉnh Quảng Bình; phía đông là biển Nam Hải và phía tây là nước Ai Lao.
Toàn thể Giáo Phận Vinh bao gồm 3 tỉnh Nghệ An + Hà Tĩnh (22.380 km vuông) và một phần tỉnh Quảng Bình (2.300 km vuông). Tổng cộng diện tích khá rộng lớn là 24.480 km vuông.
Nhưng hiện nay, số giáo dân ở các Giáo phận Việt Nam nói chung và ở Giáo phận Vinh nói riêng, mỗi ngày mỗi tăng nhanh, nên Hàng Giáo Phẩm Việt Nam đã quyết định thành lập Giáo phận Hà Tĩnh, gồm hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình, tách ra khỏi Giáo phận Vinh. Do đó, ngày 15.5.2006, Giáo phận Huế và Vinh đã thỏa thuận cho sát nhập phần lãnh thổ tỉnh Quảng Bình mà xưa nay vẫn trực thuộc Giáo phận Huế, trong đó, có xứ Tam Tòa, vào lãnh thổ Giáo phận Vinh.
Vì ở thị xã Vinh, tuy tiện trục giao thông, nhưng lại quá ồn ào náo động và nhất là, đa số dân cư vào lúc bấy giờ ở thị xã Vinh còn là lương dân, thành thử Toà Giám Mục được dời về Xã Ðoài, cách thị xã Vinh khoảng 13 km. Bởi vậy, mới có trường hợp duy nhất ở Việt Nam là Tòa Giám Mục và Giáo Phận mang hai tên khác nhau: Giáo Phận Vinh, nhưng Tòa Giám Mục Xã Ðoài.
Ở Xã Ðoài, tuy được ưu điểm là một miền quê yên tĩnh, nhưng lại thuộc miền đất phèn, không thích hợp cho việc trồng trọt hoa màu, nên rất nghèo nàn và không ai muốn đến lập nghiệp ở đó cả. Vì thế các cô thôn nữ đã thường ca thán với nhau:
«Cậu ra ba bữa cậu về,
«Ðồng chua nước mặn, chớ hề ở lâu!»
Hiện nay, giáo xứ địa đầu phía bắc là Giáo xứ Hoàng Mai, trong một vùng lam sơn chướng khí. Còn phía cực nam kề biển, là Giáo xứ Tân Thành; mé quốc lộ số 1, là Giáo xứ Mỹ Hòa, và mặt núi rừng, là Giáo xứ Chày. Giáo xứ này nằm đối diện chênh vênh với Chùa Hang, tức Ðộng Phong Nha, một thắng cảnh danh tiếng thuộc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
4. Giai đoạn thử thách: vào các năm trước và sau 1846
Theo lịch sử Giáo Hội, vào năm 1655, ở Miền Bắc (Giáo Phận Ðàng Ngoài) đã có 414 thánh đường, trong số đó, nguyên ở các tỉnh Nghệ-Tĩnh-Bình đã chiếm 160 ngôi rồi. Lúc chia Giáo Phận (1846) từ Giáo Phận Tây Ðàng Ngoài (Hà Nội), phần đất dành cho Giáo Phận Vinh gồm có 3 vị thừa sai, 35 Linh mục bản quốc, 75 thầy giảng, 69 đại chủng sinh, 290 tiểu chủng sinh, 270 nữ tu, 19 Giáo xứ với 345 Họ lẽ, và số giáo dân là 66.350 người. Giáo Phận có được một số vốn liếng dồi dào như vậy là nhờ được xây dựng trên máu của các tiền nhân tử đạo anh dũng của hai thế kỷ về trước.
Thật vậy, sau khi Ðức Cha Hậu nhận chức được 6 tháng,ì vua Thiệu Trị mất và vua Tự Ðức lên kế vị.
Thời cuộc chính trị trở nên rối ren, khiến triều đình Huế ra chính sách bách hại tàn bạo Ðạo Công Giáo suốt 36 năm trời, với 13 sắc chỉ cấm đạo, coi Ðạo Công Giáo là «Tả Ðạo», là dịch tệ, là lừa dối dân đen, v.v…
Ðúng hai năm sau khi thiết lập, chủ chăn và đoàn chiên Giáo Phận Vinh phải sống lén lút và tản mát khắp nơi. Người ta có thể nói được rằng trong thời kỳ bắt đạo suốt mấy thế kỷ trước ở Việt Nam, Giáo Hội Công Giáo thuộc Giáo Phận Vinh là bị bắt bớ và chịu gian khổ nhiều nhất.
Giáo Phận Vinh có khoảng 20 vị Linh Mục tử đạo trong thời cấm cách này, chưa được phong thánh. Năm 1868, Giáo Phận đã lập hồ sơ phong thánh cho các vị Tử Ðạo Vinh.
Trong số 117 vị Tử Ðạo được Giáo Hội hoàn vũ tôn lên bậc Hiển Thánh vào ngày 19.06.1988, đã có 6 Thánh Tử Ðạo thuộc Giáo Phận Vinh, bị giết dưới thời Minh Mạng (5 vị) và thời Thiệu Trị (1). Danh sách các ngài như sau:
1. Thánh Phêrô Lê Tùy, Linh mục, tử đạo ngày 11.10.1833
2. Thánh Phêrô Borie Cao, Giám mục,, , 24.11.1838
3. Thánh Phêrô Vũ Ðăng Khoa, Linh mục,, , 24.11.1838
4. Thánh Vincente Nguyễn Thời Ðiểm, Linh mục, , 24.11.1838
5. Thánh Phêrô Nguyễn Khắc Tự, Thầy giảng, , 10.07.1840
6. Thánh Phêrô Hoàng Khanh, Linh mục, , 12.07.1842
Trong thời gian bắt đạo quá tàn khốc như thế, Ðức Cha Hậu và các cha thừa sai đành phải sang lánh nạn ở Hồng Kông một thời gian (1859-1862).
Vào năm 1861 (Tự Ðức năm thứ 14), có cha Phêrô Nguyễn Bá Triêm được phúc tử đạo tại Quán Thầu Ðầu và hài cốt ngài hiện an nghĩ trong nhà thờ xứ Thanh Dạ.
Trong nhà thờ Thuận Nghĩa, huyện Quỳnh Lưu, còn có hài cốt cha Phêrô Nguyễn Trúc, tử đạo. Cha Giacôbê Nguyễn Danh Thông cũng được phúc tử đạo, nhưng không biết hài cốt ngài hiện ở đâu.
Ngoài các vị tử đạo đã được ghi tên tuổi trong sổ vàng của Giáo Hội hoàn vũ và của Giáo phận như trên, còn có những vị tử đạo anh hùng trong thời hiện đại. Ở đây, người ta phải kể đến các vị tử đạo anh hùng của Liên Ðoàn Thanh Niên Công Giáo Việt Nam do Ðức Cha Lê Hữu Từ (Gíao phận Phát Diệm) thành lập vào năm 1946. Tuy phong trào chủ trương hoàn toàn đứng ngoài mọi hoạt động về chính trị và đảng phái, vì mục đích và tôn chỉ của Liên Ðoàn là phụng sự Thiên Chúa và tổ quốc trong tinh thần ôn hòa, nhưng sau khi hoạt động được hai năm thì Liên Ðoàn đã bị nhà cầm quyền lúc bấy giờ đàn áp một cách dã man. Toàn ban chấp hành của Liên Ðoàn bị bắt và bị giết: Ông Phạm Tuyên, chủ tịch Liên Ðoàn, bị tử hình; ông Mạnh Trọng Niệm và em là Mạnh Trọng Tuệ bị tử hình; Ông Trương Văn Hứa bị tử hình; còn các ông Bùi Quỳnh, Phạm Huy Châu, Linh mục Tuyên úy Trương Văn Liệu, Khánh Sơn, Trần Văn Trị, Sáu Tuyên và một số thành viên khác, bị khổ sai chung thân; Linh mục Võ Viết Hiền bị chết rũ tù. Riêng cô Liên Phương chịu trách nhiệm về Nữ Giới, bị tra tấn tàn bạo đến chết. Ðặc biệt nhất, là trong ngày xử tử anh hùng Phạm Tuyên, bà vợ của ông, thay vì than khóc buồn sầu và đau khổ, đã đi mua sẵn mấy chục thước vải trắng tinh, đưa về cắt ra làm mấy chục tấm theo số tuổi của chồng, và trong ngày xử, sau khi linh hồn ông bay về Thiên đàng hưởng mặt Chúa, bà đã dùng những tấm khăn trắng đó thấm từng giọt máu tử đạo của chồng đổ ra trên mặt đất và vui mừng đưa về nhà thờ kính.
5. Danh sách các Ðức Giám Mục cai quản Giáo Phận Vinh
a) Các Giám Mục thừa sai:
1. ÐC Hậu (Gauthier), cai quản từ 1842-1877
2. ÐC Phó Nghiêm (Masson), , 1848-1853
3. ÐC Hòa (Croc), , 1868-1885
4. ÐC Trị (Pineau), , 1886-1910
5. ÐC Thọ (Belleville), , 1911-1912
6. ÐC Bắc (Eloy), , 1912-1947
Từ ngày 14.06.1951, Giáo phận Vinh được giao lại cho các Ðức Giám Mục bản quốc gốc Vinh coi sóc.
b) Các Giám Mục VN gốc Vinh:
1. ÐC GB. Trần Hữu Ðức, cai quản từ 1951-1971
2. ÐC Phó Phaolô Nguyễn Ðình Nhiên,, , 1963-1969
3. ÐC Phêrô Nguyễn Năng,, , 1971-1978
4. ÐC Phêrô Trần Xuân Hạp,, , 1979- 2000
5. ÐC Phaolô Cao Ðình Thuyên,, , 2000-
6. Nghệ-Tĩnh-Bình: Vùng đất anh hùng hào kiệt
Hễ nói đến vùng đất Nghệ-Tĩnh-Bình, là không thể không nhắc đến tên tuổi của những người con ưu tú của dãy đất Miền Trung này, không thể không nhắc đến tên tuổi của những vị anh hùng dân tộc mang trong mình dòng máu Nghệ-Tĩnh-Bình được.
Nếu chúng ta đứng từ Bến Thủy thuộc Nghệ An, nhìn sang đất Hà Tĩnh ở phía nam, chúng ta sẽ thấy một cảnh non nước tuyệt đẹp: Cảnh ”Sông Lam, Núi Hồng”, trải rộng mênh mông và xanh biếc một màu. Bên kia, vượt hàng cây xanh, là quả núi Hồng Lĩnh bao phủ kín chân trời. Nhìn toàn cảnh mà du khách cứ muốn tìm đâu là Tiên Ðiền, đâu là Uy Viễn?
a) Các danh nhân và các nhà ''tư tưởng''
Vâng, bên trái Cửa Hội, cách khoảng 5km, là làng Uy Viễn, quê của vị quan nổi danh Nguyễn Công Trứ (1778-1858), Doanh Ðiền Sứ của Triều Ðình, đã có công khai phá miền Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Phát Diệm) thành một miền đất trù phú như chúng ta thấy ngày nay.
Còn bên trái, cách 6km, là làng Tiên Ðiền, quê của nhà văn hào dân tộc Nguyễn Du với tác phẩm bất hủ “Ðoạn Trường Tân Thanh” mà dân gian thường gọi là Chuyện Kiều.
Một nhà thi sĩ nổi tiếng khác là nữ sĩ Hồ Xuân Hương, quê bà ở Quỳnh Ðôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Bà là tác giả của những cuốn “Xuân Hương Thi Tập” và “Ðồ Sơn Bạt Vịnh”, v.v…
Nhưng nhắc đến tên Nam Ðàn, người ta không thể quên được tên một vĩ nhân khác, đó là chí sĩ Phan Bội Châu (1867-1940). Cùng với Phan Chu Trinh, Trần Quí Cáp, Tăng Bạt Hổ, v.v… ông đã cho phổ biến “Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư” và đã làm chấn động cả nước. Ông cổ võ “Duy Tân Tự Cường” và phát động “Phong Trào Ðông Du”.
Nhưng trước khi bỏ đất Nghệ An, chúng ta không quên tên tuổi của một nữ tướng thời danh Bùi Thị Xuân (?-1802). Tuy được sinh ra tại Bình Ðịnh, nhưng gốc ở Triệu Phong (Nghệ An). Là một người phụ nữ có sức mạnh và lòng can đảm phi thường. Bà đã từng huấn luyện voi và điều khiển đội chiến tượng gồm 100 thớt voi ra Bắc Hà, đánh bại quân Thanh. Bà là nữ tướng có công đánh đuổi Tôn Sĩ Nghị và giải phóng được thành Thăng Long.
Một danh sĩ khác, sinh tại làng Bùi Chu, huyện Hưng Yên, tỉnh Nghệ An, cũng chứa chan một bầu nhiệt huyết yêu nước thương nòi, đó là Nguyễn Trường Tộ (1827-1871). Ông đã muốn dùng sự hiểu biết và du học của mình để dâng lên vua Tự Ðức mấy chục bản điều trần canh tân đất nước trong các lãnh vực: chính trị, ngoại giao, quân sự, kinh tế, tài chính, giáo dục, giao thông, vận tải, khai mỏ, khẩn hoang, v.v… Nhưng tiếc thay, các bản điều trần khẩn cấp của ông đã bị bọn nịnh thần xé bỏ, khiến cho những kiến nghị của ông chỉ là tiếng kêu trong sa mạc vô vọng. Nguyễn Trường Tộ vốn thuộc một gia đình theo đạo Công Giáo từ nhiều đời và là học trò của Ðức Giám Mục Gauthier.
Nhưng ngoài Nguyễn Trường Tộ, là một giáo dân đã hết lòng vì đất nước, lịch sử Giáo Phận Vinh còn ghi nhớ một vị Linh mục Công Giáo, một người con của Giáo Phận, đã làm quan lớn dưới triều vua Tự Ðức. Ðó là cha Phaolô Nguyễn Hoằng (1839-1909). Cha Hoằng sinh tại xứ Phương Trạch, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh. Cùng với ông Petrus Ký, cha được tham gia phái bộ Phan Thanh Giản, qua Pháp để điều đình vào các năm 1863-64. Ông Nguyễn Trường Tô, sống cùng thời, đến thăm và khen Linh mục Hoằng: ”Người giỏi tiếng Tây, ngay từ khi ngài còn là giáo sĩ phó tế”.
Rời đất Nghệ An, đi qua Hà Tĩnh và du khách sẽ đặt chân lên đất tỉnh Quảng Bình, vùng đất của các bậc vĩ nhân.
Trước hết, về phương diện văn thơ: Một trong những thi sĩ công giáo nỗi danh nhất là nhà thơ Hàn Mặc Tử, tên thật là Phan-xi-cô Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22.09.1912 tại Ðồng Hới. Ông là tác giả của những tập thơ nỗi danh và rất được giới yêu thơ quí chuộng như “Ðau Thương”, “Xuân Như Ý”, “Duyên Gấm Ngọc Trai”, v.v… và là thần tượng một thời của giới sinh viên, học sinh trong cả nước. Năm 1940, một cơn bạo bệnh đã cướp đi người con tài hoa của vùng đất xứ Quảng.
Tiếp đến, về phương diện xã hội chính trị: chí sĩ Ngô Ðình Diệm, Tổng Thống tiên khởi của Miền Nam Việt Nam, là người phải được xưng danh đầu tiên. Sau khi đã trục xuất tên thực dân Pháp cuối cùng ra khỏi lãnh thổ đất nước bằng con đường ngoại giao khéo léo, ổn định cuộc sống cho hơn một triệu người di cư từ Miền Bắc vào trong một hoàn cảnh cực kỳ phức tạp và khó khăn lúc bấy giờ, v.v… ông đã được đồng bào nhất mực tín nhiệm bầu vào chức vụ Tổng Thống. Tuy ông lớn lên ở Huế, nhưng quê gốc và dòng máu yêu nước hào hùng của ông là của người Quảng Bình. Năm 1963, trong một cuộc đảo chánh do một số tướng lãnh phản bội âm mưu, dưới sự lèo lái của người Mỹ, ông và hai người em trai ruột bị sát hại................................................................................................................................................................Kết luận
Qua những dòng tóm lược Lịch Sử Giáo Phận Vinh trên đây, người ta phải khách quan công nhận rằng tất cả những người Công Giáo gốc Vinh, đều có chung một niềm tự hào về tinh thần quật cường bất khuất của dòng máu Nghệ-Tĩnh-Bình anh hùng, trong tất cả mọi lãnh vực: kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, tôn giáo.
Đúng thế, trước kia vào các thập niên 40, 50 ở Trang Nứa, Quỳnh Lưu, Yên Mỹ, Chúc A, v.v… người Công Giáo Vinh đã từng rào làng chống lại bạo quyền đàn áp tôn giáo, thì ngày nay, ở Tam Tòa, tinh thần bất khuất đó còn mạnh mẽ hơn bội phần, vì được anh chị em đồng đạo trong khắp toàn Giáo phận, toàn nước và toàn thế giới ủng hộ làm hậu thuẩn.
Thật vậy, dù sống trên vùng đất quê mẹ Nghệ-Tĩnh-Bình, hay sơ tán trên khắp đất nước Việt Nam, hoặc ở một chân trời góc biển nào trên thế giới, người Công Giáo Vinh luôn luôn giữ được bản sắc và những phẩm tính cao quí của mình. Ðó là chân thành, trung kiên, chịu khó, cần mẫn, cương quyết và luôn lấy chữ tín làm đầu, chứ không bao giờ lật lọng hay dua nịnh. “Trung thần bất sự nhị quân”- một người tôi trung, không bao giờ phục vụ một lần hai chủ, luôn luôn là khí phách của người dân Nghệ-Tĩnh-Bình.
Kính thờ Thiên Chúa và phục vụ Tổ Quốc, luôn được người Dân Vinh đặt lên trên hết. Bởi vậy, đồng bào cả nước – lương cũng như giáo –, cũng như cả thế giới, luôn hướng nhìn về vùng đất miền trung Nghệ-Tĩnh-Bình với tất cả sự kính phục và cảm mến. Nghệ-Tĩnh-Bình muôn năm!
LM. JB. Nguyễn Hữu Thy
VietCatholic News (30 Jul 2009)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét