Nhiều năm trước đây, một bài thuốc nam được coi là của tử tù có tác dụng chữa được bệnh ung thư gan lan truyền trong dân gian với hai cây thuốc là bạch hoa xà thiệt thảo và bán biên liên.
Trong bài viết này, chúng tôi đề cập tới cây thuốc có tên bạch hoa xà thiệt thảo để bạn đọc tham khảo, ứng dụng.
Tên gọi và dược tính
Còn có tên gọi khác nhau như cỏ lưỡi rắn trắng, bồi ngòi bò, xà thiệt thảo, xà châm thảo, long thiệt thảo… Có tên khoa học là Hedyotis diffusa Willd, thuộc họ cà phê.
Là loại cỏ mọc bò, sống hàng năm, có thể cao tới 30-40cm. Lá mọc đối, hơi thuôn dài, không có cuống lá, có khía răng ở đỉnh. Hoa mọc đơn độc hoặc thành đôi ở kẽ lá, có màu trắng. Quả nang khô dẹt ở đầu, có nhiều hạt màu nâu nhạt. Cây thường mọc hoang nơi đất ẩm ướt. Ngay tại Hà Nội cũng thấy cây này mọc. Được dùng toàn cây làm thuốc.
Theo y học cổ truyền
Bạch hoa xà thiệt thảo có vị ngọt, đắng, tính hàn. Vào các kinh vị, đại tràng, tiểu tràng. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi thủy, tiêu thũng, tán kết, kháng nham (chống u)… Thường được dùng chữa các bệnh viêm họng, viêm đường tiết niệu, viêm gan, sỏi mật, lỵ trực trùng, mụn nhọt, rôm sảy, rắn cắn. Dùng ngoài chữa vết thương, côn trùng đốt, đau lưng, đau khớp… Thời xưa, Tuệ Tĩnh thường dùng chữa rắn cắn, sởi…
Tác dụng chữa bệnh của bạch hoa xà thiệt thảo có ghi trong nhiều sách khác nhau: Truyền châu bản thảo cho rằng bạch hoa xà thiệt thảo có tác dụng thanh nhiệt, tán ứ, tiêu ung, giải độc, Quảng Tây trung thảo dược cho biết có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết, Mân nam bản thảo lại nêu có tác dụng giảm đau…
Theo y học hiện đại
Bạch hoa xà thiệt thảo có tác dụng ức chế tế bào ung thư lymphô, bạch cầu hạt và bạch cầu đơn nhân, tế bào carcinom… ức chế hiện tượng gây đột biến do aflatoxin B1 tạo ra. Một tác dụng nữa của bạch hoa xà thiệt thảo góp phần tạo nên tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh ung thư là có tác dụng ức chế miễn dịch.
Do có tác dụng tăng cường khả năng đại thực bào của hệ thống lưới- nội mô và bạch cầu nên bạch hoa xà thiệt thảo có tác dụng chống viêm.
Trung Quốc dùng cây thuốc này chữa bệnh ung thư dạ dày, thực quản, cổ tử cung, bàng quang, trực tràng, đại tràng, thực quản, hạch
Tại Ấn Độ, bạch hoa xà thiệt thảo còn được dùng chữa các bệnh viêm gan virus, sốt, lậu… Tương đồng với y học Ấn Độ, một số nước cũng dùng bạch hoa xà thiệt thảo chữa bệnh viêm gan. Tại Trung Quốc đã bào chế một loại thuốc từ thảo dược với tên Ất can ninh, thành phần có bạch hoa xà thiệt thảo, hoàng kỳ, nhân trần, đảng sâm, hà thủ ô?… Theo các nhà khoa học, Ất can ninh có tác dụng ức chế miễn dịch, ngăn ngừa sự phát triển của virus và phục hồi chức năng gan, có tác dụng tốt trong điều trị bệnh viêm gan virus B. Lợi đởm thang với các thành phần bạch hoa xà thiệt thảo, nhân trần, kim tiền thảo cũng được đánh giá có tác dụng lợi mật, được áp dụng chữa sỏi mật, viêm đường mật ở Trung Quốc.
Dạng dùng và liều thuốc
Trong dân gian, phổ biến được dùng dưới dạng thuốc sắc. Có thể dùng tươi hoặc phơi khô. Liều dùng có thể tới 60g thuốc khô, tương đương với khoảng 250g dược liệu tươi. Dùng ngoài không kể liều lượng.
Ở nước ngoài, bạch hoa xà thiệt thảo còn được bào chế thành dạng thuốc tiêm để chữa các bệnh ung thư và viêm nhiễm như viêm phế quản, viêm phổi, viêm họng, viêm ruột thừa…
Một số bài thuốc nam đơn giản
- Chữa ung thư gan: Bạch hoa xà thiệt thảo 30g, chó đẻ răng cưa 30g, cam thảo dây 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.
- Chữa ung thư dạ dày: Bạch hoa xà thiệt thảo 60g, bạch mao căn (rễ cỏ tranh) 60g, hạt bo bo 40g, đường đỏ 40g. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa viêm họng: Bạch hoa xà thiệt thảo 30g, bồ công anh 20g, kim ngân hoa 20g, cam thảo dây 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.
- Chữa phù thũng: Bạch hoa xà thiệt thảo 40g, rễ cỏ tranh 30g, râu ngô 20g, cam thảo dây 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.
- Chữa viêm gan vàng da: Bạch hoa xà thiệt thảo 60g, chó đẻ răng cưa 30g, nhân trần 20g, cam thảo dây 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.
+ Bạch hoa xà thiệt thảo 40-80g, lấy nước hòa mật ong để uống. (Sảnh môn).
- Chữa sỏi mật: Bạch hoa xà thiệt thảo 30g, kim tiền thảo 20g, màng trong mề gà sao cách cát cho vàng 16g, cam thảo dây 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.
+ Bạch hoa xà thiệt thảo 40g, nhân trần 40g, kim tiền thảo 40g. Sắc uống ngày một thang (lợi đởm hợp tễ). Bài thuốc này đã được Trung Quốc áp dụng trên lâm sàng, có tác dụng lợi mật, tăng bài tiết mật. Thường được áp dụng cho bệnh sỏi mật, bệnh đường mật…
- Chữa lỵ trực trùng: Bạch hoa xà thiệt thảo 30g, rau sam 20g, lá mơ tam thể 20g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.
- Chữa lỵ, viêm phần phụ: Bạch hoa xà thiệt thảo 40g. Sắc uống ngày một thang. (Phúc kiến trung thảo dược).
- Chữa nhọt lở: Bạch hoa xà thiệt thảo 30g, kim ngân hoa 20g, bồ công anh 20g, bèo cái 20g, cam thảo dây 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.
- Chữa rôm sảy: Bạch hoa xà thiệt thảo, cúc liên chi dại. Hai vị lượng bằng nhau. Dùng để nấu nước tắm.
- Chữa vết thương sưng đau: Bạch hoa xà thiệt thảo 200g. Sắc uống ngày một thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.
+ Bạch hoa xà thiệt thảo 60g, huyết giác 20g, cây cối xay 20g, cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.
- Chữa mụn nhọt: Bạch hoa xà thiệt thảo 60g, bồ công anh 20g, bèo cái 20g. Sắc uống ngày một thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.
- Chữa rắn cắn: Bạch hoa xà thiệt thảo 100g, giã nát, cho thêm nước, bã đắp vào chỗ rắn cắn, còn nước uống.
+ Bạch hoa xà thiệt thảo 60g, hạt giền gai 20g giã nát, phèn chua phi 4g, cam thảo dây 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.
+ Bạch hoa xà thiệt thảo tươi 1-2 lạng ta, giã vắt lấy nước uống, hoặc sắc uống ngày một thang (Phúc kiến trung thảo dược).
Một số bài thuốc thường dùng:
- Tăng huyết áp: Bạch hoa xà (toàn cây) 16 g, lá dâu 20 g, hoa đại 12 g, quyết minh tử (hạt muồng) 16 g, cỏ xước 12 g, ích mẫu 12 g. Sắc uống ngày một thang.
- Mụn, nhọt sưng tấy: Lá bạch hoa xà đắp cách 2-3 lớp gạc ngay trên mụn nhọt, có tác dụng làm tan nhọt. Chỉ nên đắp 30 phút. Nên cẩn thận vì có thể gây bỏng da nếu không đắp cách gạc. Nếu bị bỏng, cần dùng dung dịch acid boric loãng rửa vết bỏng.
- Táo bón: Lá bạch hoa xà nấu canh với giấm hoặc chanh để ăn (có thể xào). Uống 1 bát canh, sau 1 giờ là đi ngoài được, người không mệt. Nếu muốn thôi đi ngoài, vò lá với nước lạnh, uống 1/2 chén.
- Phong thấp: Rễ bạch hoa xà 12 g, dây đau xương 12 g, thổ phục linh 16 g. Sắc uống ngày một thang.
- Sưng đau do chấn thương: Rễ hoặc lá bạch hoa xà giã với cơm thành bột nhão, đắp lên chỗ sưng đau.
- Bong gân sai khớp: Rễ bạch hoa xà 20 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang. Có thể dùng rễ bạch hoa xà ngâm rượu làm thuốc xoa bóp.
- Chốc lở: Lá bạch hoa xà giã nát, đắp lên tổn thương sau khi đã rửa sạch, nếu thấy nóng thì phải bỏ ra.
- Đau gan, đau dạ dày: Rễ bạch hoa xà 12 g, nhân trần 20 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang.
- Ghẻ: Rễ bạch hoa xà sắc lấy nước, dùng nước này để bôi ghẻ.
- Chậm kinh: Bạch hoa xà (toàn cây) 16 g, lá móng tay 40 g, củ nghệ đen 20 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang. Khi thấy kinh phải ngừng uống ngay.
- Tê thấp: Bột rễ bạch hoa xà trộn với dầu vừng, xoa bóp (kinh nghiệm của Ấn Độ).
Chú ý: Phụ nữ có thai cấm dùng bạch hoa xà vì có thể làm ra thai.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét