Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2013

Vai trò và tầm quan trọng của các tôn giáo..

Việt nam. Một đất nước có hàng nghìn năm lịch sử; đã trải qua biết bao cuộc thăng trầm trong hành trình dựng nước và giữ nước cho đến ngày hôm nay.

Từ mũi Cà Mau đến địa đầu móng cái hơn 80 triệu người và 54 dân tộc anh em con dân đất Việt. Chung sống hòa hợp dưới bầu trời châu Á Thái Bình Dương, luôn khát khao tự do và yêu chuộng hòa bình. Có diện tích lãnh thổ khoảng 33 vạn km2 và phần lãnh hải theo ''bách khoa toàn thư mở wikipedia'' ''Biển Đông (vùng biển đông Việt Nam) là một biển rìa lục địa (marginal sea), một phần của Thái Bình Dương, bao phủ một diện tích từ Singapore tới eo biển Đài Loan với diện tích áng chừng khoảng 3.500.000 km². Đây là một hình thể biển lớn nhất sau năm đại dương. Các đảo ở Biển Đông có số lượng nhiều, tập hợp thành một số quần đảo. Vùng biển này và phần lớn các đảo không có người ở của nó là mục tiêu tranh chấp chủ quyền của nhiều quốc gia xung quanh. Những tranh chấp đó cũng thể hiện ở số lượng tên gọi được sử dụng để chỉ vùng biển này.''

Một đất nước được ví, đẹp như bức tranh trong mộng. Nằm nghiêng nghiêng bên bờ thái bình dương.Luôn luôn phải đối mặt với thời tiết, khí hậu thiên nhiên khắc nghiệt và nạn chiến tranh - giặc giã triền miên trực diện đe dọa đến sự tồn - vong của giống nòi. 

Một điều làm cho chúng ta phải thao thức và suy gẫm. Đó là sự hòa hợp giữa các tôn giáo trên mãnh đất thiêng liêng này. Có thể nói, trong lịch sử tổ quốc việt nam chưa từng xẩy ra những cuộc xung đột tôn giáo bài trừ lẫn nhau, nhằm tranh giành quyền ảnh hưởng cho tư tưởng giống nòi. Những nổi đau thương trong lịch sử đã để lại những vết sẹo cho đời sống tinh thần của hậu thế, chỉ là những khúc đoạn trường mà những kẽ nắm quyền lực thế gian cố tình gieo rắc vì mục đích trục lợi cá nhân mà có !

54 tư dân tộc anh em, có 54 phong tục - tập quán và đời sống tinh thần tôn giáo - văn hóa khác nhau. Trong đó có 4 tôn giáo chính,đặc biệt nổi bật là 2 tôn giáo lớn có tỷ lệ % vượt trội về số lượng dân số.Trong hai tôn giáo lớn đại diện cho nền văn minh-văn hóa tổ quốc Việt Nam lại không phải là nền tôn giáo được sinh ra trên quê hương việt Nam; nó đã được hình thành và phát triển ở hai nền văn minh lớn của nhân loại (miền tây Á(văn minh do thái) và (miền ấn độ dương) văn minh ấn độ).Cả 2 hai tôn giáo lớn đã trường tồn và phát triển cùng với sự thăng tiến của xã hội loài người trên thế giới và đã đến với con người trên quê hương Việt Nam.
Lịch sử việt nam thời nay, thường nhắc đến cụm từ nhà nước đế quốc -phong kiến lợi dụng tôn giáo; để chia rẽ quốc dân. Chia rẽ giữa người lương với người giáo( giữa người thờ phượng Thiên Chúa với người chưa nhận biết, thờ phượng Thiên Chúa) nhằm mục đích dễ bề cai trị.Ở bài này chúng ta thử đi tìm hiểu và phân tích dưới một góc nhìn khách quan, trong giai đoạn lịch sử từ khi Tin Mừng chúa kitô đến Viêt Nam, (thời kỳ ghi dấu ấn đậm nét trong lịch sử dân tộc).

Giai đoạn trước năm 1858, dân tộc Việt nam sống trong chế độ phong kiến tập quyền trung ương ,chịu ảnh hưởng sâu đậm nền cai trị của vua chúa việt nam;, sự nhũng nhiễu của tập đoàn phong kiến và các học thuyết tư tưởng phương bắc.Nổi bật trong các học thuyết ấy là tư tưởng khổng-mạnh, lão - trang…Về mặt đời sống tinh thần- tôn giáo. Học thuyết phật giáo đã ăn sâu vào trong tiềm thức nghìn năm của con dân đất Việt. Sự hòa quyện nhịp nhàng giữa phật giáo-Không giáo-Lão giáo( tam giáo đồng nguyên) đã trở thành đường lối chính trị trọng yếu nhất cho tầng lớp cai trị. 

Tính từ bi hĩ xã của đức phật (điều quan ngại nhất là học thuyết luân hồi, đã làm cho một thời đại sãn sinh ra những con người chấp nhận số phận như thể là cánh cửa để đi vào tương lai).

Tính đẳng cấp trong học thuyết Khổng giáo( quân, sư, phụ. Vua có có quyền sinh-tử trên số phận của mỗi con người và được tôn sùng hóa như thể là con trời, ''Thiên Tử'' .''vua xử thần tử, thần bất tử bất trung''). 

Tính vô vi trong Lão giáo đã làm cho đời sống giao thương có phần bị hạn chế;, sự mở rộng quan hệ ngoại giao, trao đổi hàng hóa giữa cá quốc gia dân tộc không được đề cao và cổ súy có tinh quốc gia chiến lược cho một nền kinh tế phát triển.

Sống trông thời đại bấy giờ các quốc gia và các sắc tộc chịu ảnh hưởng của cái bóng áo choàng hoàng đế trung quốc đều phải tuân phục thiết chế cai trị như là một bản năng. Thỉnh thoảng củng có những cuộc tĩnh thức như vủ bão của một số nhân sĩ trí thức văn võ kiêm toàn, dám đứng lên chống lại ách thống trị của tập đoàn phong kiến thịnh trị. Các nhà nước cai trị thế gian củng thay nhau sụp đổ theo sự phát triển sinh tồn của nhân loại. Nhưng khi những nhân sĩ này nắm được chính quyền họ lại cai trị dân quốc như các triều đại vua chúa trước. 

Vì.
Thứ nhất là sự bế tắc về học thuyết.
Thứ hai là các học thuyết thời bấy giờ có lợi cho các nhà lãnh đạo quốc gia. Vì thế trải qua hàng nghìn năm…. 
Bài sơ lược chưa chỉnh sữa(còn nữa…)