Thứ Bảy, 7 tháng 7, 2012

Tôn giáo là đỉnh cao của mọi nền văn hóa.


Không ai có thể ban ân huệ cho một tôn giáo, ngoại trừ (Đấng tạo thành trời đất).
Vì, tôn giáo là bản nguyên của một nhân sinh, khi họ là một con người, bản nguyên tôn giáo đã được Thiên Chúa phú bẩm vào trong linh hồn họ.
Ngập ngừng giữa cụm từ Tôn Giáo và Tín Ngưỡng đã làm nảy sinh biết bao lần tranh cãi. Thực ra cả hai là một sự tận căn của đời sống con người; tuy cách biểu đạt của nó có nhiều thể phần khác nhau.
Có ý kiến cho rằng: " tín ngưỡng là sự thầm kín của một cá thể trong chiều kích tâm linh và cách biểu đạt của nó lặng lẽ, trong âm thầm thế sự''. Trong đó. Thế thượng phong của tôn giáo vượt trội, vượt xa và bao trùm tín ngưỡng.
Tôn giáo không thể là sự biểu hiện tinh thần của một cá vị bị ẩn khuất trong lũy ... và trong khóm cây xanh. Nó là sự tổng hợp của muôn vàn cá thể có niềm đức tin, có niềm tin; cùng chung một lý tưởng và ân sủng.
Sự vượt lên của các tâm hồn là một sự vượt lên đỉnh điểm của Linh Hồn, nó có tính tổ chức xã hội mang tầm quốc gia - vùng miền - quốc tế. Vì thế, nó đã được khẳng định Tôn Giáo khác hẳn Tín Ngưỡng.
Tự do tôn giáo là nét đẹp của một đất nước, là sự đàng hoàng của một dân tộc văn minh. Trải qua biết bao cuộc thăng trầm trong lịch sử nhân loại. Bao chế độ xã hội loài người đã đua nhau sụp đổ, nhưng tôn giáo vẫn tồn tại và phát triển ngày thêm một phồn vinh.
Cùng với sự biến thiên của các nền văn minh nhân loại, được phát triển trong hòa bình và có sự cộng hưởng trong các cuộc chiến tranh. Các tôn giáo đã nhịp nhàng như những làn sóng giao thoa giữa Đông và Tây, giữa Nam và Bắc, đã hòa nhập với nhau cùng phát triển hòa bình, an lạc (tôi muốn nói về những tôn giáo lớn) và dẫn đưa con người tới một đời sống trần thế tốt đẹp, làm nền tảng, làm đường hướng cho cuộc sống sau khi chết. Nói thế không có nghĩa là tôi tán thành học thuyết tương đối trong Tôn Giáo.
Trong chiến tranh, các Tôn Giáo đã được con người mang đi khắp thế giới trong các cuộc tị nan chiến tranh.Tuy nhiên chiến tranh không phải là chất xúc tác cho sự trải rộng và phát triển của Tôn Giáo. Nhưng vì Tôn Giáo là niềm hạnh phúc lớn nhất của con người và của tất cả loài người.
Sự mở rộng và phát triển của tôn giáo không có chiều kích như, các cuộc vùng dậy của các hệ phái chính trị.
Nói rằng: mọi biến cố trong cuộc sống, đều được bắt nguồn từ cái bụng của con người tốt hay xấu tùy vào ngưỡng biến thiên của sự kiện, hiện tượng. Ở trong tôn giáo lại khác, cuộc sống và sự phát triển của tôn giáo được bắt nguồn từ cái tâm và ơn mạc khải đến từ trời cao.
Người ta có thể từ bỏ cha, mẹ, anh (chị) em, bạn bè thân hữu, để đi tới chân trời góc biển, rao giảng về Thiên Chúa tình yêu, đấng tạo thành trời đất, muôn loài, muôn vật, chỉ duy nhất là một (Bất khả vô song).
Các Thánh tông đồ trong Giáo Hội tiên khởi là những người đầy ơn Chúa thánh Thần. Họ không phải là những nhà thông thái ra đi truyền bá về một học thuyết xã hội dưới chiêu bài núp bóng Thần Linh. Họ càng không phải là những con người có tham vọng vật chất - quyền lực thế gian, ra đi nhằm xây dựng một nhân sinh quan mới, để thu về những món lợi phù hoa. Họ là những người mà Kinh Thánh Tân ước mô tả là những con người đơn sơ, chất phác giản dị như ''bụi cỏ lùm cây''. Trước kia họ cũng rất tham lam, nhát đảm và sợ chết; nhưng sự kiện Đấng chịu chết trên Thập Giá và sống lại đã thúc bách họ lên đường. Trong lương tâm của họ không có sự mưu lược, lừa lọc kiểu thế gian, cho nên sự thật trong Đức Ki-Tô Phục Sinh đã thấm vào và ngự trị trong tâm hồn họ một cách tự nhiên và không một tý bợn thế gian nào có thể cản đường, ngăn trở họ đến với sự thật và chân lý. Họ đã hy sinh mạng sống mình vì sự thật ấy, sự hy sinh của họ còn được ca tụng mãi cho đến ngày nay và mãi mãi.
Tiếp bước họ trong dòng lịch sử là hàng đoàn, hàng đoàn người đã hy sinh đời sống và cả mạng sống mình cho giá trị chân lý mà Chúa Giê Su đã rao giảng. Theo bước chân Thầy tất cả những ai được gọi là môn đệ chính danh của Chúa Giê Su đều nhiệt tâm rao giảng về Thiên Chúa tình yêu - Toàn Năng. Không một ai trong họ ghen tương đố kỵ với các anh (chị), em tôn giáo bạn; ngoại trừ những trường hợp rất tối thiểu và bất khả kháng. Nhưng trục chính và xuyên suốt của đức Giê Su là: "ai không chống đối ta là cùng ta xây dựng"
Sự va chạm trong công cuộc truyền bá tin mừng cứu độ cho muôn dân, không phải là sự xung đột giữa các nền văn hóa, giữa các ý thức hệ tôn giáo với nhau, mà bởi sự ghen ghét của quyền lực thế gian.
Ánh sáng của chúa Ki Tô chiếu dọi, xua tan đi những đám mây mù, đã làm rúng động đến đời tư của những kẻ ẩn nấp trong đám mây mù ấy, và các cuộc phản kháng được bắt đầu vì những lợi ích cá nhân.
Mười giới răn của Thiên Chúa là hòn đá tảng, đã làm biết bao người, và bao chế độ chính trị vấp ngã. Họ có mười vợ, họ chuyên hà hiếp tha nhân, họ thích cai trị và bóc lột, họ lường gạt lẫn nhau và sống mất công bằng xã hội .....
Khi họ gặp phải các giới răn của Chúa họ đã phản kháng để bảo vệ màn đêm của họ.
Ba trăm năm giáo hội thời tiên khởi, và gần ba trăm năm thời kỳ đầu của giáo hội Việt Nam; là những minh chứng rõ ràng, cho ta thấy sự va cham giữa ánh sáng của sự thật và bóng tối thế gian.
Thế gian và các thế lực núp bóng thế gian, nhằm mưu cầu lợi ích cá nhân sẽ vùng dậy với những khẩu hiệu chót lưỡi đầu môi, "tinh thần dân tộc". Kỳ thực, tính dân tộc mà họ rêu rao chỉ là phương tiện hot hơn cả những tiện nghi mà họ đang xài trong gia đình họ và trở thành công cụ kiếm tiền hữu hiệu nhất cho lợi ích cá nhân.
Tính dân tộc đã được tất cả các quốc gia - dân tộc trên thế giới nâng niu, bảo vệ và phải đổi bằng máu để bảo vệ nó là tính dân tộc trong sáng, nó phù hợp với xu thế thời đại. Đó là tính dân tộc hiên đại.
Trong Kinh Thánh cựu ước, tính dân tộc được đề cao và cổ súy cho sự bền vững của một quốc gia - dân tộc. Sự thật tính dân tộc của nhà con cái Ít-ra-en, đã bảo vệ và làm nên một nhà nước Do Thái vững mạnh, trường tồn giữa dòng biến thiên lịch sử nhân loại … .
Ngày nay, tính dân tộc đó còn được cổ súy cho sự phát triển dân tộc của họ và khát vọng trở thành một quốc gia - dân tộc văn minh giữa lòng thời đại hôm nay. Nhờ đặc thù Do Thái và nền văn minh của nó mà nhiều quốc gia dân tộc trên thế giới được hưởng nhờ sức mạnh, ánh sáng của nền văn minh hiện đại, tự do và dân chủ.
Tôi yêu dân tộc tôi, tôi yêu tổ quốc tôi, tôi muốn dân tộc-tổ quốc tôi cũng được phồn vinh - trường tồn, đủ sức mạnh sánh bước với các quốc gia khác. Ánh sáng của mười giới răn Thiên Chúa và lòng từ bi của Đức Phật sẽ làm cho tổ quốc tôi triển nở và văn minh độc lập, tự cường.
Tính dân tộc cực đoan sẽ không bao giờ là bàn đạp, nền tảng và sức mạnh, để xây dựng một quốc gia phồn thịnh.
Tính dân tộc cực đoan, tự bản thân nó sẽ không làm nên một nền hòa bình cho bất kỳ một dân tộc nào trên thế giới.
Nó còn là nguyên nhân gây ra những vụ xung đột đẫm máu ngay trong lòng dân tộc đó.
Nói đúng hơn, tính dân tộc cực đoan, tiềm ẩn lưỡi gươm trong lòng một quốc gia.
Ánh sáng chân lý của Đức Giê Su Ki Tô, sẽ là điểm tựa vững chắc nhất, cho sự tồn tại và phát triển của mọi dân tộc và các quốc gia trên thế giới.
Đức cố Giáo Hoàng Gioan paul II đã khẩn thiết kêu gọi các quốc gia - dân tộc trên thế giới " hãy mở ra các cánh cữa, hãy mở ra các biên giới quốc gia".
Lịch sử loài người nhìn từ góc độ tổng hợp, lý giải và phân tích của các nhà lịch sử và xã hội học, đã cho chúng ta biết xã hội loài người đã trải qua các tiết đoạn lịch sử như thế nào.
Có những giai đoạn lịch sử, sự phát triển chênh lệch giữa đông và tây trong nền văn minh nhân loại, đã kéo theo biết bao hệ lụy cho các quốc gia - dân tộc chậm phát triển.
Nhưng không ai môt quốc gia, dân tộc nào có thể cưỡng lại cơn thủy triều văn minh, mà các dân tộc văn minh đã xây dựng và truyền bá khắp thế gian.
Những năm của thế kỷ XIX - XX, nền khoa học kỷ thuật của phương Tây phát triển, sự truyền bá nền văn minh khoa học ấy đã đè bẹp các quốc gia - dân tộc lạc hậu. Ngày nay, xu thế văn minh mới của nhân loại lại phát triển và có xu hướng chinh phục các quốc gia "độc tài-mông muội". Đó là văn minh hội nhập, văn minh WTO.
Tôn giáo và chính trị là hai lãnh vực tách rời.
Khái niệm giữa chúng không có điểm chung.
Trong đó, mục mà đích cả hai đều nhắm tới đều là mục đích vì sự thăng tiến của con người.
Chính trị nhắm đến con người trong chiều kích con người là đối tượng phục vụ lợi ích chính trị.
Tôn giáo nhắm tới con người trong tâm thế là một người cha nhân lành, quan phòng những đứa con thân yêu của mình, cả phần hồn cả phần xác.
Nhiều khi chính trị đã bị vấp ngã trong sự thật. Khi ấy, chính tôn giáo lại nâng đỡ, vực dậy chính trị trong sự thật ấy. Sự cứng nhắc của chính trị đã nhiều lúc làm phiền lòng con dân của mình và làm cho quốc gia - dân tộc bị đẩy vào tình trạng bị cô lập trên trường quốc tế.
Tôn giáo và chính trị. Cả hai, đi trên hai đường thẳng song song. Tuy nhiên có nhiều lúc nó kiềm tỏa lẫn nhau, lấn át, lấn lướt lẫn nhau; Nhưng giữa chúng không bao giờ là đối thủ.
Lịch sử nhân loại đã cho chúng ta thấy có nhiều lúc sự nóng nảy thái quá của chính trị, đã dẫn đến hành động ''kề lưỡi gươm sát thủ'' vào cổ họng đối trọng song phương của mình và chính trị đã tự kết liễu đời mình bằng thanh gươm ấy.
Qủa thật. Cái răng tuy nhiên cứng hơn khúc lưỡi, nhưng cái răng đã rụng trước (lời của người xưa thật đúng).
Tôn giáo luôn luôn là người Cha, người thầy của chính trị, trên bình diện đạo lý - đạo đức xã hội. Chính trị có thể truy lùng tôn giáo như là nguyên nhân làm tổn thương thể chế (thời kỳ hội Thánh tiên khởi, các môn đệ chúa đã bị truy lùng dưới lưỡi gươm của hoàng đế La Mã. Chính Herode cũng truy lùng Hài nhi Giê Su.) Trong lúc đó, tôn giáo lại luôn luôn biểu lộ bản chất của mình, là một người cha nhân ái, ngày đêm trông đợi và sẵn sàng đón nhận, tha thứ cho chính trị; như người Cha đợi trông đợi, sự trở về của đứa con hoang đàng.
Tôn giáo còn là một cái phanh giúp kiểm soát, kiềm tỏa sự bột phát nhiều khi, thiếu nhân văn, nhân bản của chính trị, trong sự việc bảo vệ đời sống xã hội và các giá trị nhân bản - văn hóa của con người, của dân tộc - quốc gia - quốc tế.
Chính Thánh Phao lô tông đồ đã răn dạy bổn đạo của mình" phải tôn trọng chính quyền dân sự "(thư gửi cộng đoàn Rô Ma, Paul. XIII, I-VII".
Qủa thật. Cái răng tuy nhiên cứng hơn khúc lưỡi, nhưng cái răng đã rụng trước (lời của người xưa thật đúng). Tôn giáo luôn luôn là người Cha, người thầy của chính trị trên bình diện đạo lý - đạo đức xã hội. Vì, theo Ngài quyền lực của chính quyền cũng do Thiên Chúa ban cho mà có. (Phi-la-to, đã nói với Chúa Giê Su "Ngươi không biết ta có quyền tha và có quyền kết án ngươi ư? Chúa Giê Su đã trả lời… .
"Ngươi không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngươi quyền ấy" Ga,XIX, x-xi.
Trong lời giáo huấn của thánh Phao Lô, chính quyền mà ông trình bày là chính quyền "dân chủ thời bấy giờ", biết lo cho dân nước, và biết tôn kính đấng tạo thành trời đất. Ở đây chúng ta cũng phải nêu lên rằng: Chắc hẳn Thánh tông đồ, không răn dạy con cái Chúa phải a dua theo những chính quyền, chỉ biết cai trị con dân mình bằng bạo lực và các mánh khóe thủ đoạn chính trị thế gian.
Qua đó chúng ta có thể hiểu rằng thông qua việc răn dạy con cái mình, Thánh Phao Lô cũng muốn nhắc nhở các chính quyền dân sự phải biết cai tri dân nước trong tình yêu Thiên Chúa. Rất ít trong lịch sử loài người, và có thể đếm được trên đầu ngón tay, các quốc gia có nền chính trị, trong đó, lấy một tôn giáo nào đó làm nền tảng cho nền chính trị ấy. Sự kiện lấy một tôn giáo làm nền tảng chính trị cho một quốc gia, là một hiểm họa xung đột bạo lực trong lòng quốc gia ấy trong tương lai.
Đã có những quốc gia, có nền chính trị, trong đó tôn giáo là điểm tựa cốt lõi cho tương lai dân tộc.Vì chính trị quốc gia ấy được hình thành trên chiều kích khách quan về tôn giáo của dân tộc ấy.
Sự thật. Chúa Giê Su đã quả quyết, " nước ta không thuộc về thế gian". Ngài đã nói:"của Thiên Chúa, trả về cho Thiên Chúa". Vâng. Con cái thế gian đang mắc nợ Thiên Chúa, một món nợ tình yêu - hòa bình - công minh - chính trực, trung thành trong bổn phận mình, bổn phận làm con Thiên Chúa và là anh em của nhau. Cái không thuộc về Thiên Chúa là những sự đối lập với mười giới răn của Ngài, sự gian trá, lừa gạt và thủ đoạn thế gian sẽ là lưỡi gươm tiêu giệt những thứ thuộc về chúng và chúng sẽ tiêu giệt lẫn nhau."của xê-da, trả cho xê-da".




Joseph Trần Đăng Khoa
7-12-2012

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét