Thứ Năm, 8 tháng 12, 2011

Chữ Quốc Ngữ trên chặng đường lịch sử Việt Nam

Cuốn kinh Thánh cổ nhất việt nam in bằng chử Quốc Ngữ ở nhà thờ Bằng Lăng
                                             Giáo sĩ Đắc Lộ (tức Alexandre de Rhodes
người Pháp được coi là người có công nhiều trong việc định chế chữ quốc ngữ qua cuốn tự điển Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinummà ông soạn và in ra năm 1651
Sưu tầm:

Chữ Quốc Ngữ (viết tắt là Quốc Ngữ) là hệ thống chữ viết chính thức hiện nay của tiếng Việt. Hệ thống này được xây dựng dựa trên chữ cái Latinh (cụ thể là trực tiếp từ chữ cái Bồ Đào Nha) thêm các chữ ghép và 9 dấu phụ — 4 dấu tạo ra các âm mới, và năm dấu còn lại dành cho thể hiện thanh điệu của từ. Hai loại dấu phụ có thể được viết cùng trên một chữ cái nguyên âm.
Bảng chữ cái tiếng Việt có 30 chữ cái, theo thứ tự:
A Ă Â B C D Đ E Ê G H I K L M N O Ô Ơ P Q R S T U Ư V X Y
a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x y
Trước đây, các chữ ghép này được coi như một chữ cái độc lập và có thể được tìm thấy trong từ điển cũ. Ngày nay chúng không được coi là chữ cái độc lập mà là chữ ghép; ví dụ trong việc xếp thứ tự, "CH" nằm giữa "CA" và "CO" trong các từ điển hiện đại.
Các chữ cái "F", "J", "W" và "Z" không có trong bảng chữ cái tiếng Việt, nhưng có thể bắt gặp trong các từ vay mượn từ tiếng nước ngoài. "W" thỉnh thoảng được dùng trong cách viết tắt thay "Ư". Hiện đang có ý kiến cho rằng, cần bổ sung thêm bốn chữ cái kể trên vào bảng chữ cái tiếng Việt để hợp thức hóa cách sử dụng để đáp ứng sự phát triển của tiếng Việt hiện đại.
Nguyên âm
Ngoài các nguyên âm đơn, trong tiếng Việt còn có nguyên âm đôinguyên âm ba.
Có mối liên hệ phức tạp giữa nguyên âm và cách phát âm của chúng. Một nguyên âm có thể biểu thị cho vài cách phát âm khác nhau, tùy theo nó nằm trong nguyên âm đơn, đôi hay ba; và nhiều khi các cách viết nguyên âm khác nhau tượng trưng cho cùng một cách phát âm.
Ví dụ y và i có thể dùng thay cho nhau trong nhiều trường hợp. Đã có quyết định của Bộ Giáo dục Việt Nam vào năm 1984, quy định dùng ithay cho y. Quy chuẩn này không áp dụng cho các nguyên âm đôi và nguyên âm ba, cũng như ngoại trừ tên riêng; nhưng vẫn có hạn chế trong việc thực thi trong cuộc sống. Trường hợp các từ có phụ âm đầu là qu, sử dụng vần y thì sẽ đúng hơn.
Bảng sau cho biết các cách phát âm có thể tương ứng với từng cách viết nguyên âm:
Cách viếtPhát âmCách viếtPhát âm
a /ɐː/, /ɐ/, /ɜ/ o /ɔ/, /ɐw/, /w/
ă /ɐ/ ô /o/, /ɜw/, /ɜ/
â /ɜ/ ơ /əː/, /ɜ/
e /ɛ/ u /u/, /w/
ê /e/, /ɜ/ ư /ɨ/
i /i/, /j/ y /i/, /j/
Hiện nay các nhà ngôn ngữ học chưa có sự thống nhất hoàn toàn về số lượng nguyên âm trong tiếng Việt. Tuy nhiên, quan điểm phổ biến[cần dẫn nguồn] cho rằng tiếng Việt có 13 nguyên âm đơn, 3 nguyên âm đôi và không có nguyên âm ba, gồm: /i, e, ε, ɤ, ɤˇ, a, ɯ, ă, u, o, ɔ, ɔˇ, εˇ, ie, ɯɤ, uo/.
Bảng sau cho biết các cách viết có thể tương ứng với từng cách phát âm nguyên âm đơn:
Nguyên âm đơn/i/
thông thường i: /si/ = sĩ.
thỉnh thoảng y: /mi/ = Mỹ.
luôn là y nếu
bắt đầu một chữ Hán Việt: /iɜw/ = yêu .
(Chú ý là cả i và y đều cũng có thể dùng biểu thị cho /j/.) /e/
ê
/ɛ/
e /ɨ/
ư
/əː/
ơ /ɜ/
/ɜ/
/ɐː/
a /ɐ/
/u/
u /o/
ô
/ɔ/
Bảng sau cho biết các cách viết có thể tương ứng với từng cách phát âm nguyên âm đôi và ba:
Nguyên âm đôi & baPhát âmCách viếtPhát âmCách viết
Nguyên âm đôi
/uj/ ui /iw/ iu
/oj/ ôi /ew/ êu
/ɔj/ oi /ɛw/ eo
/əːj/ ơi /əːw/ ơu
/ɜj/ ây, ê /ɜw/ âu, ô
/ɐːj/ ai /ɐːw/ ao
/ɐj/ ay, a /ɐw/ au, o
/ɨj/ ưi /ɨw/ ưu
/iɜ/ ia, ya, iê, yê /uɜ/ ua, uơ
/ɨɜ/ ưa, ươ 
Nguyên âm ba
/iɜw/ iêu, yêu /uɜj/ uôi
/ɨɜj/ ươi /ɨɜw/ ươu
/iɜ/
ia nếu không có phụ âm nằm sau /miɜ/ = mía
iê nếu có phụ âm nằm sau /miɜŋ/ = miếng
thay i bằng y tại đầu từ hoặc sau môt chữ cái nguyên âm:
ya: /xwiɜ/ = khuya
yê: /xwiɜn/ = khuyên; /iɜn/ = yên 
/uɜ/
ua nếu không có phụ âm nằm sau /muɜ/ = mua
uô nếu có phụ âm nằm sau /muɜn/ = muôn
/ɨɜ/
ưa nếu không có phụ âm nằm sau /mɨɜ/ = mưa
ươ nếu có phụ âm nằm sau /mɨɜŋ/ = mương 
Phụ âm
Chữ ghép "GH" và "NGH" được dùng thay "G" và "NG" ngay trước "I", để tránh nhầm lẫn với chữ ghép "GI". Vì lý do lịch sử, chúng cũng được dùng trước "E" và "Ê".
Đa số các phụ âm được dùng giống như trong nhiều ngôn ngữ dùng chữ cái latinh khác, với các ngoại lệ:
"Đ" đọc giống "D" như trong nhiều ngôn ngữ, nhưng có thể có thêm âm tắc cổ họng vô thanh ngay trước hoặc cùng lúc phát âm phụ âm này.
"D" và "GI" đọc giống [z] theo giọng Bắc, và giống [j] theo giọng Nam.
"V" đọc giống [v] theo giọng Bắc, và giống [j] theo giọng Nam.
"NG" là âm vòm mềm mũi [ŋ].
"NH" khi đứng đầu chữ là âm vòm mũi [ɲ], khi đứng cuối chữ thì mang hai giá trị khác nhau ở hai miền (Bắc: [ŋ], Nam: [n]).
"PH" đọc giống /f/.
"TH" là âm hơi [tʰ].
"TR" là âm đầu lưỡi vòm cứng theo giọng Nam và đọc giống "CH" theo giọng Bắc.
Cấu trúc
Một đơn vị từ tiếng Việt chỉ chứa một âm tiết. Mỗi đơn vị từ chứa nhiều nhất là ba phần:
Phụ âm đầu (có thể không có)
Nguyên âm cùng thanh điệu (luôn có)
Phụ âm cuối (có thể không có; chỉ có thể là một trong c, ch, m, n, ng, nh, p, t).
Thanh điệu
Tiếng Việtngôn ngữ thanh điệu, nghĩa là nghĩa của một từ phụ thuộc vào thanh điệu của từ đó. Có sáu thanh điệu; trong đó thanh ngang không ghi dấu phụ, còn các thanh khác có dấu phụ ghi tại nguyên âm.
Thanh điệuDấu phụNguyên âm mang dấu phụ
Ngang Không có A/a Ă/ă Â/â E/e Ê/ê I/i O/o Ô/ô Ơ/ơ U/u Ư/ư Y/y
Huyền Dấu huyền À/à Ằ/ằ Ầ/ầ È/è Ề/ề Ì/ì Ò/ò Ồ/ồ Ờ/ờ Ù/ù Ừ/ừ Ỳ/ỳ
Sắc Dấu sắc Á/á Ắ/ắ Ấ/ấ É/é Ế/ế Í/í Ó/ó Ố/ố Ớ/ớ Ú/ú Ứ/ứ Ý/ý
Hỏi Dấu hỏi Ả/ả Ẳ/ẳ Ẩ/ẩ Ẻ/ẻ Ể/ể Ỉ/ỉ Ỏ/ỏ Ổ/ổ Ở/ở Ủ/ủ Ử/ử Ỷ/ỷ
Ngã Dấu ngã Ã/ã Ẵ/ẵ Ẫ/ẫ Ẽ/ẽ Ễ/ễ Ĩ/ĩ Õ/õ Ỗ/ỗ Ỡ/ỡ Ũ/ũ Ữ/ữ Ỹ/ỹ
Nặng Dấu nặng Ạ/ạ Ặ/ặ Ậ/ậ Ẹ/ẹ Ệ/ệ Ị/ị Ọ/ọ Ộ/ộ Ợ/ợ Ụ/ụ Ự/ự Ỵ/ỵ
Trong các nguyên âm đôi và ba có ít nhất hai cách đặt dấu phụ lên chúng, trong đó một cách ("cách mới") dựa trên lý thuyết ngôn ngữ học.
Trong xếp thứ tự chữ cái, các chữ cái được ưu tiên, tiếp sau là thanh điệu, và sau cùng là chữ hoa/chữ thường. Quá trình ưu tiên này được thực hiện lần lượt trên các âm tiết. Ví dụ một từ điển sẽ xếp "tuân thủ" trước "tuần chay".
Phát âm
Cách phát âm theo tên gọi có từ lúc Alexandre de Rhodes truyền bá chữ quốc ngữ, còn cách phát âm theo phiên âm có từ sau năm 1945.
STTChữ cáiPhát âm trước 1945Phát âm sau 1945
1 A/a a a
2 Ă/ă á á
3 Â/â ớ ớ
4 B/b bờ bê
5 C/c cờ xê
6 D/d dờ dê
7 Đ/đ đờ đê
8 E/e ơ e
9 Ê/ê ê
10 G/g gờ giê
11 H/h hờ hát
12 I/i i i
13 K/k kờ ca
14 L/l lờ lờ/en-lờ
15 M/m mờ mờ/em-mờ
16 N/n nờ nờ/en-nờ
17 O/o o o
18 Ô/ô ô ô
19 Ơ/ơ ơ ơ
20 P/p pờ pê
21 Q/q quờ qui
22 R/r rờ rờ/e-rờ
23 S/s ết ét/ét-xì
24 T/t tờ tê
25 U/u u u
26 Ư/ư ư ư
27 V/v vờ vê
28 X/x ít ích-xì
29 Y/y i gờ-rếch i dài
Lịch sử
 Đề mục này cần được mở rộng.

Tự điển in năm 1651 bằng ba thứ tiếng Việt-Bồ-La của giáo sĩ Đắc Lộ
Thời kỳ đầu
Chữ Quốc ngữ được phổ biến sâu rộng định chế vào khoảng thế kỷ 1920 nhưng đã xuất hiện phôi thai vào khoảng thế kỷ 16 khi các giáo sĩ Tây phương đầu tiên đến Việt Nam và giao tiếp vớingôn ngữ Việt, rồi vì nhu cầu mà bắt đầu ghi lại tiếng Việt dưới dạng chữ La tinh. Trước tiên là giáo sĩ Bồ Đào Nha dòng Phanxicô; kế đến là giáo sĩ Tây Ban Nha dòng Đa Minh rồi dòng Tên. Sang thế kỷ 17 thì số văn tịch ghi lại dấu vết loại chữ này càng nhiều, kèm theo những biến đổi hoàn chỉnh với ký hiệu thanh giọng thêm chính xác. Tên tuổi những giáo sĩ đã tiên phong góp công trong việc hoàn chỉnh lối chữ này gồm có Gaspar do Amaral, Antonio BarbosaFrancisco de Pina.
Giáo sĩ Đắc Lộ (tức Alexandre de Rhodes) người Pháp được coi là người có công nhiều trong việc định chế chữ quốc ngữ qua cuốn tự điển Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinummà ông soạn và in ra năm 1651. Tuy là người Pháp song nguồn gốc ký âm của chữ Quốc ngữ qua những chứng tích ghi lại trong cuốn tự điển cho ta thấy ảnh hưởng rõ rệt của tiếng Bồ Đào Nha, cùng những đóng góp của tiếng Ýtiếng Pháp. Soạn giả còn ghi rõ ông mượn dấu sắc,huyền, ngã từ tiếng Cổ Hy Lạp mà không đủ nên phải thêm iota subscriptum (dấu nặng) và dấu hỏi để biểu lộ thanh giọng của tiếng Việt.
So sánh ký hiệu thì âm nh theo tiếng Bồ; gi theo tiếng Ý; còn ph theo tiếng Cổ Hy Lạp.
Trong những tài liệu còn lưu trữ được là bản thảo "Manescrito, em que se Prou a, que a forma do Bauptisma Pronunciada em Lingoa Annamica he Verdadeira" do giáo sĩ Giovanni Filippo de Marini (1608-1682)]người Ý thuộc dòng Tên, sang đến Đàng Ngoài giảng đạo năm khoảng thập niên 1650, thì lối viết chữ Quốc ngữ ở giai đoạn đó như sau:
Tau rửa mầi nhân danh cha, ủa con, của Spirite Santo. Tầu lấy tên Chúa, tốt tên, tốt danh, tốt tiếng, vô danh, cắt ma, cắt xác, Blai có ba hồn bảy uía, Chúa Bloy ba ngôy nhẩn danh...
Thế kỷ 19
Gia Định báo, tờ báo tiếng Việt đầu tiên dùng chữ Quốc ngữ, ra mắt năm1865
Một mốc quan trọng của chữ Quốc ngữ là cuốn tự điển của giáo sĩ Jean-Louis Taberd, in năm 1838, căn cứ vào những sửa chữa của Giám mục Bá Đa Lộc.
Cuốn tự điển của Bá Đa Lộc được soạn từ năm 1773 đến 1815 thì hoàn thành, mang tênDictionarium Annamatico-latinum nhưng chưa được in ra (bản viết tay nay còn giữ ở Văn khố Hội Truyền giáo Paris). Trong khi đó tự điển của Taberd mang tên Nam Việt Dương hiệp Tự vị (tựa tiếng Latinh cũng giống như cuốn của Bá Đa Lộc là Dictionarium Annamatico-latinum) được in ở Serampore, Ấn Độ. Nó phản ảnh một biến chuyển quan trọng của tiếng Việt trong khoảng thời gian giữa thế kỷ 17 và thế kỷ 19. So sánh tự điển của Taberd và De Rhodes thì âm "б" biến mất, thay thế bằng âm "v" hoặc "b". Những âm "bl", "ml", "pl", "sl", và "tl" cũng biến mất, thay thế bằng "tr", "nh", "l", "s". Dạng chính tả của chữ Quốc ngữ ở thời điểm này không khác mấy cách viết ngày nay.
Cuốn tự điển có phần phụ lục tựa là "Lời Chúa Tàu và Người Annam vấn đáp cùng nhau" (Dialogus Inter Unum Navis Praevectum et Unum Cocincinensem), trong đó có đoạn như sau: Ông đi viếng Quan lớn thì được song thói nước nầy chẳng cho phép thăm đờn bà.
- Tôi cam lòng chìu theo quốc pháp, tôi chẳng có ý làm đều gì nghịch cùng thói phép đất nầy, có tục ngữ rằng: nhập giang tùy khúc nhập gia tùy tục.
Đọc qua, ngoài một số chữ khác biệt cách viết nhưng ý đã rõ, không là trở ngại cho độc giả thế kỷ 21. Tuy nhiên vào thời điểm này phạm vi dùng chữ Quốc ngữ vẫn hạn chế trong việc ghi chép của cộng đồng Công giáo. Ngoài ra đại chúng người Việt không dùng lối chữ này.
Địa vị chính thức
Đơn khai sinh năm 1938Bắc Kỳ có bốn dạng chữ: chữ Quốc ngữ lẫn chữ Nôm cùng dấu triện bằng tiếng Pháp và vài chữ Nho
Chữ Quốc ngữ trên chặng đường hơn 300 năm vẫn không được công nhận là văn tự chính thức cho tới khi người Pháp xâm lăng, chiếm lấy Nam Kỳ vào cuối thế kỷ 19. Ngày 22 tháng 2 năm1869 Phó Đề đốc Marie Gustave Hector Ohier ký nghị định bắt buộc dùng chữ Quốc ngữ thay thếchữ Nho trong các công văn.
Ngày 1 Tháng Giêng năm 1879 thì lại có lệnh đòi các văn kiện chính thức phải dùng chữ Quốc ngữ. Cũng năm đó chính quyền Pháp đưa chữ Quốc ngữ vào ngành giáo dục, bắt đầu ở các thôn xã Nam Kỳ phải dạy lối chữ này.
Khi Gia Định Báo phát hành, tờ báo đầu tiên bằng tiếng Việt, thì câu văn đã thêm phần mạch lạc, chính tả không mấy khác ngữ văn ngày nay ví dụ như bản thông báo ngày 22 tháng 12 năm 1888sau đây:[12]
Sở Thuế Chánh Ngạch. Các người thiếu thuế... đặng hay: các sổ phụ trong tháng Octobre 1888 thuế đất, thuế sanh ý, thuế ghe biển, thuế ghe sông, cùng thuế thân đã lập theo phép để trong tay quan Kho Bạc Sài Gòn và Chợ Lớn hay về việc thâu thuế. Bởi đó sức cho các người ấy phải y theo hạn trong luật dạy mà đóng các món thuế biên trong sổ ấy, bằng không thì phải cứ phép mà bắt buộc...
Thế kỷ 20
Khái Hưng một thành phần cột trụ trong nhóm Tự Lực Văn đoàn, giúp phát triển văn chương chữ Quốc ngữ vào đầu thế kỷ 20
Sang thế kỷ 20 thì chính phủ Đông Pháp mở rộng chính sách dùng chữ Quốc ngữ, giao cho Nha Học chính giảng dạy ở Bắc Kỳ từ năm 1910.Năm 1915 thì kỳ thi Hương cuối cùng diễn ra ở Bắc Kỳmặc cho sự chống đối của giới sĩ phu. Ở Trung Kỳ thì đạo dụ của vua Khải Định ngày 26 tháng 11âm lịch năm Mậu Ngọ (tức ngày 28 tháng 12, 1918) chính thức bãi bỏ khoa cử và năm 1919 là năm cuối mở khoa thi ở Huế.Chữ Quốc ngữ từ đó trở thành phương tiện diễn đạt duy nhất của người Việt trong khi địa vị Chữ Nhochữ Nôm càng mờ nhạt tuy chưa mất hẳn nhưng lui dần vào quá khứ.
Trong khi đó cũng có thành phần theo Nho học nhưng hiểu được giá trị của chữ Quốc ngữ và cổ động việc thâu nhận chữ Quốc ngữ như là một cách nâng cao trình độ kiến thức đại chúng, canh tân xã hội, thức tỉnh tinh thần yêu nước và huy động động lực phản kháng của người Việt trước quyền lực của thực dân Pháp. Trong đó có nhóm Đông Kinh nghĩa thục. Việc theo học chữ Quốc ngữ theo đó thì không chỉ là phương tiện đọc và viết mà còn hàm ý vận động chính trị và vận mệnh dân tộc.
Chữ Quốc ngữ qua những tác phẩm biên khảo, phóng sự, bình luận, du ký của những Nam Phong Tạp chí, Đông Dương Tạp chí, cùng một loạt tiểu thuyếtthơ mới của nhóm Tự lực Văn đoàn với tư tưởng mới, phong cách mới cũng và nhiều tác giả khác đã chứng minh chức năng toàn diện của chữ Quốc ngữ làm văn tự của người Việt để rồi sau năm 1945 các chính quyền kế thừa đều công nhận lối chữ này.
                                   Bản đồ nước ta đầu tiên chú thích rõ ràng bằng chữ quốc ngữ.
                             Việc học chữ quốc ngữ bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi người.






















Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét